Kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025: Bứt phá kỷ lục và chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao
Năm 2025 ghi dấu một bước phát triển vượt bậc của hoạt động xuất, nhập khẩu Việt Nam khi tổng kim ngạch đạt 930,05 tỷ USD, xác lập kỷ lục cao nhất từ trước tới nay. Kết quả này phản ánh rõ nét thương mại toàn cầu đang dần phục hồi, kinh tế vĩ mô trong nước ổn định, cũng như vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực và thế giới.
Năm 2025, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh vừa có nhiều thuận lợi, vừa tồn tại không ít khó khăn, thách thức.
Về thuận lợi, kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tại nhiều thị trường lớn dần tăng trở lại, tạo điều kiện mở rộng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam tiếp tục phát huy lợi thế từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, giúp hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan và tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics, hải quan đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, giảm thời gian thông quan và chi phí giao dịch cho doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.
Tuy nhiên, hoạt động xuất, nhập khẩu năm 2025 cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro do lạm phát, biến động tỷ giá, xung đột địa chính trị và chính sách bảo hộ thương mại của một số quốc gia, làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi các rào cản phi thuế quan như tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu về môi trường, lao động và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn để đáp ứng. Ngoài ra, chi phí logistics và giá nguyên vật liệu đầu vào còn biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất, nhập khẩu.
Tận dụng lợi thế và khắc phục những khó khăn, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%[1]. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nguồn ngoại tệ và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.
Hình 1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025

Xuất khẩu hàng hóa
Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
Trong 10 năm qua, mức tăng này chỉ thấp hơn năm 2017 và năm 2021[2], cho thấy xuất khẩu đã thoát khỏi giai đoạn tăng trưởng chậm và lấy lại đà mở rộng. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm tỷ trọng 77,3% kim ngạch xuất khẩu, đạt 367,09 tỷ USD và tăng 26,1% so với năm 2024. Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch, phản ánh xu hướng gia tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng trong xuất khẩu.
Trong năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).

Điểm nổi bật nhất trong cơ cấu xuất khẩu năm 2025 là sự vươn lên mạnh mẽ của mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện với kim ngạch đạt 107,7 tỷ USD, là nhóm hàng xuất khẩu đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 48,4% so với năm 2024 và bỏ xa các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực truyền thống. So với các năm 2023, 2024, khi nhóm hàng này đã giữ vai trò quan trọng nhưng chưa tạo khoảng cách lớn với các mặt hàng xuất khẩu khác, năm 2025 đánh dấu bước nhảy vọt, khẳng định điện tử-công nghệ cao đang dần trở thành trụ cột số một của xuất khẩu Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam không chỉ là điểm đến lắp ráp, gia công mà ngày càng tham gia sâu hơn vào các công đoạn có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất của khu vực và thế giới.
Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu năm 2025 đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm 2024 và cao hơn rõ rệt so với mức tăng của ba năm trước[3], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.
Nhập khẩu tăng chủ yếu phục vụ sản xuất và xuất khẩu, thể hiện qua tỷ trọng rất lớn của nhóm hàng tư liệu sản xuất, đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 52,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 40,9%.

Trong năm 2025, có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 09 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%). Trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục đứng đầu với kim ngạch đạt 150,7 tỷ USD, tăng 40,7%, chiếm tới 33,1% (tức là chiếm 1/3) tổng kim ngạch nhập khẩu. So với giai đoạn 2023-2024, nhập khẩu năm 2025 phản ánh sự mở rộng quy mô sản xuất rõ nét hơn, thay vì chỉ phục hồi cầm chừng. Tốc độ tăng của nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng của xuất khẩu 2,4 điểm phần trăm.
Cán cân thương mại năm 2025 xuất siêu 20,03 tỷ USD, dù thấp hơn mức xuất siêu của năm 2024, song vẫn là kết quả tích cực trong bối cảnh Hoa Kỳ áp thuế quan 20% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, nhập khẩu tăng nhanh chủ yếu phục vụ sản xuất. Điều này cho thấy tăng trưởng thương mại năm 2025 mang tính mở rộng thực chất, gắn với đầu tư, sản xuất và xuất khẩu trong trung và dài hạn.
So với giai đoạn 2023-2024, tốc độ và chất lượng tăng trưởng thương mại năm 2025 cho thấy sự chuyển biến rõ rệt. Năm 2023, trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam tăng ở mức thấp, thậm chí có thời điểm sụt giảm do nhu cầu toàn cầu yếu và đứt gãy chuỗi cung ứng. Sang năm 2024, hoạt động thương mại bắt đầu phục hồi, kim ngạch tăng trở lại nhưng chưa thực sự bứt phá, chủ yếu dựa vào một số thị trường và mặt hàng truyền thống. Đến năm 2025, khi cầu thế giới cải thiện rõ rệt, nhiều hiệp định thương mại tự do phát huy hiệu quả sâu rộng hơn, xuất, nhập khẩu Việt Nam đã tăng tốc mạnh mẽ, vượt xa mức tăng của hai năm trước cả về quy mô tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đã đạt và vượt mục tiêu đề ra, chinh phục mốc kỷ lục 900 tỷ USD.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu vượt mốc 900 tỷ USD là kết quả của một quá trình tích lũy dài hạn. Kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc Đổi mới, sau 21 năm, vào năm 2007, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD. Những năm tiếp theo, thương mại Việt Nam liên tục mở rộng quy mô. Sau 4 năm kể từ năm 2007, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tiếp tục vượt mốc 200 tỷ USD vào năm 2011 và 4 năm tiếp theo, năm 2015 đã vượt mốc 300 tỷ USD. Sau đó, chỉ mất 2 năm để tiến tới mốc 400 tỷ USD trong năm 2017 và cũng sau đó 2 năm, lần đầu vượt 500 tỷ USD năm 2019. Sau những năm gián đoạn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, thương mại phục hồi nhanh chóng, vượt 600 tỷ USD vào năm 2021 và 700 tỷ USD vào năm 2022. Sau khi sụt giảm vào năm 2023 do tác động mạnh mẽ của hiệu ứng hậu Covid-19 trên toàn cầu, năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu phục hồi, tiệm cận mức rất cao, tuy nhiên do vẫn còn có những khó khăn trong giai đoạn cuối năm 2024 nên đã bỏ lỡ cơ hội chinh phục mốc 800 tỷ trong năm 2024. Đến năm 2025 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đã lấy lại đà phục hồi và có bước đột phá mạnh mẽ, không những vượt qua mốc 800 tỷ mà còn chính thức bứt phá vượt mốc 900 tỷ USD, khẳng định bước trưởng thành về năng lực sản xuất, xuất khẩu và mức độ hội nhập của nền kinh tế.
Để duy trì đà tăng trưởng và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất, nhập khẩu trong năm 2026, các giải pháp vĩ mô cần được triển khai một cách đồng bộ, nhất quán và có trọng tâm, hướng tới cả mục tiêu ngắn hạn lẫn trung và dài hạn.
Trước hết, ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục là điều kiện tiên quyết. Việc điều hành linh hoạt chính sách tài khóa và tiền tệ, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và mặt bằng lãi suất sẽ giúp doanh nghiệp xuất, nhập khẩu giảm chi phí tài chính, hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất – kinh doanh. Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định cũng là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài, qua đó tạo thêm năng lực sản xuất và xuất khẩu cho nền kinh tế.
Song song với đó, tái cơ cấu sản xuất gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được đẩy mạnh hơn nữa. Trong bối cảnh nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện giữ vị trí dẫn đầu cả xuất khẩu và nhập khẩu, chính sách vĩ mô cần tập trung thu hút đầu tư có chọn lọc vào các khâu công nghệ cao, thiết kế, nghiên cứu – phát triển và sản xuất linh kiện cốt lõi. Việc hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, mà còn góp phần giảm phụ thuộc nhập khẩu đầu vào, cải thiện chất lượng tăng trưởng thương mại và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.
Bên cạnh giải pháp về sản xuất, đa dạng hóa thị trường và đối tác thương mại là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro và bất định. Ngoài việc duy trì và mở rộng thị phần tại các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Việt Nam cần chủ động khai thác các thị trường mới, thị trường ngách và thị trường tiềm năng ở Trung Đông, châu Phi, Nam Á và Mỹ La tinh. Việc tận dụng hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cần chuyển mạnh từ khai thác ưu đãi thuế quan sang đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và quy tắc xuất xứ, giúp hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu và bền vững hơn vào thị trường quốc tế.
Phát triển hạ tầng logistics và cải cách thủ tục hành chính cũng là giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả xuất, nhập khẩu trong năm 2026. Đầu tư đồng bộ vào hệ thống cảng biển, kho bãi, trung tâm logistics, vận tải đa phương thức và logistics số sẽ giúp giảm chi phí lưu thông hàng hóa – một trong những điểm nghẽn lớn của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan, mở rộng ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước sẽ góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cuối cùng, thúc đẩy chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trong hoạt động xuất, nhập khẩu cần được coi là định hướng chiến lược. Các chính sách vĩ mô cần khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng tiêu chuẩn sản xuất xanh, giảm phát thải, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường lớn. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, ứng dụng nền tảng số và các mô hình kinh doanh mới sẽ mở ra dư địa tăng trưởng mới cho xuất khẩu trong giai đoạn tới.
Trong giai đoạn 2026-2030, hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng trưởng, song tốc độ có thể dần ổn định hơn so với giai đoạn bứt phá 2024-2025. Xu hướng chủ đạo sẽ là sự gia tăng vai trò của các ngành công nghệ cao, kinh tế số và sản xuất xanh trong cơ cấu thương mại. Điện tử, máy tính và linh kiện nhiều khả năng tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu cả xuất khẩu và nhập khẩu, trong khi các nhóm hàng truyền thống như dệt may, giày dép sẽ tăng trưởng chậm hơn và chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn.
Đồng thời, yêu cầu về phát triển bền vững, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội từ các thị trường lớn sẽ ngày càng khắt khe, buộc doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và tính minh bạch. Nếu tận dụng tốt xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, Việt Nam có khả năng duy trì quy mô thương mại lớn, hướng tới các mốc kim ngạch cao hơn trong thập kỷ tới, trước mắt là cột mốc lịch sử 1.000 tỷ trong năm 2026, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng xuất, nhập khẩu.
[1] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2024 đạt 786,93 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 405,94 tỷ USD, tăng 14,4%; nhập khẩu đạt 380,99 tỷ USD, tăng 16,7%.
[2] Năm 2015 tăng 7,9%; năm 2016 tăng 9,0%; năm 2017 tăng 21,8%; năm 2018 tăng 13,3%; năm 2019 tăng 8,4%; năm 2020 tăng 6,9%; năm 2021 tăng 18,9%; năm 2022 tăng 10,6%; năm 2023 giảm 4,6%; năm 2024 tăng 14,4%.
[3] Năm 2022 tăng 8,1%; năm 2023 giảm 9,2%; năm 2024 tăng 16,7%.
~Sưu Tầm~
https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/ket-qua-hoat-dong-xuat-nhap-khau-hang-hoa-nam-2025-but-pha-ky-luc-va-chuyen-dich-manh-me-sang-cong-nghe-cao/